Sở y tế tỉnh Gia Lai
Sở y tế tỉnh Gia Lai
Chia sẻ

ĐIỂM TIN: FDA CẢNH BÁO VỀ TÌNH TRẠNG THIẾU VITAMIN B6 VÀ NGUY CƠ CO GIẬT KHI SỬ DỤNG THUỐC CHỨA CARBIDOPA/LEVODOPA

 |  128 lượt xem  | 

Tổng quan về các thuốc carbidopa/levodopa

Các thuốc chứa carbidopa/levodopa được phê duyệt để điều trị các triệu chứng của bệnh Parkinson một bệnh lý thần kinh tiến triển. Levodopa là tiền chất của dopamine, một chất dẫn truyền thần kinh quan trọng trong não. Ở bệnh nhân Parkinson, sự suy giảm nồng độ dopamine gây ra các triệu chứng vận động điển hình như run, cứng cơ và chậm vận  động.Carbidopa có tác  dụng ức  chế  quá  trình  khử carboxyl của levodopa ở ngoại vi, nhờ đó làm tăng lượng levodopa đi qua hàng rào máu não để chuyển hóa thành dopaminevà phát huy tác dụng điều trị.Các chế phẩm thuốc chứa carbidopa/levodopa đang lưu hành với nhiều dạng bào chế và hàm lượng khác nhau.

Vitamin B6 là một yếu tố cần thiết cho phản ứng chuyển  hóa  levodopa  thành dopamine. Ngoài  ra,  carbidopa có khả năng gắn với dạng hoạt động của vitamin B6 là pyridoxal 5′-phosphate làm giảm hoạt tính chức năng của vitamin này. Sự kết hợp của các cơ chế trên có thể dẫn đến thiếu hụt vitamin B6 trong quá trình sử dụng carbidopa/ levodopa.

Phát hiện của FDA

FDA đã tiến hành đánh giá dữ liệu an toàn và xác định 14 trường hợp co giật liên quan đến tình trạng thiếu vitamin B6 ở những bệnh nhân sử dụng các thuốc chứa carbidopa/levodopa. Trong đó, 13 trường hợp được ghi nhận từ các báo cáo sau khi thuốc lưu hành gửi đến FDA và 1 trường hợp được ghi nhận trong y văn. Tất cả các trường hợp được đánh giá đều sử dụng levodopa với liều trên 1.000 mg/ngày. Đáng chú ý, liều levodopa cao hơn (>1.500 mg/ngày) có liên quan đến thời gian phát hiện tình trạng thiếu vitamin B6 sớm hơn. Triệu chứng co giật được báo cáo đối với cả các dạng bào chế đường uống và qua ống thông đường tiêu hóa, với thời gian khởi phát dao động từ 23 tháng đến 132 tháng. Biểu hiện co giật thường bắt đầu từ cơn co giật cục bộ sau đó lan rộng toàn thân, cơn co giật này tương tự như tình trạng co giật trong bệnh động kinh phụ thuộc vitamin B6, ngoài ra, một số trường hợp tiến triển thành động kinh. Do đó, biến cố này cần được phát hiện sớm và xử trí kịp thời.

Ngoài các cơn co giật, nhiều bằng chứng lâm sàng khác liên quan đến tình trạng thiếu vitamin B6 cũng được ghi nhận: tăng nồng độ homocystein (4 trường hợp), thiếu máu hồng cầu nhỏ hoặc bình thường (3 trường hợp) và các triệu chứng thần kinh –tâm thần (4 trường hợp). Trong số 9 bệnh nhân được bổ sung vitamin B6, tất cả đều hết các cơn co giật, mặc dù trước đó phần lớn các bệnh nhân này không đáp ứng với nhiều thuốc chống động kinhkhác nhau. Đã ghi nhận 2 trường hợp tử vong đều có nồng độ vitamin B6 thấp và các cơn co giật kiểm soát kém.

FDA không ghi nhận trường hợp co giật liên quan đến thiếu vitamin B6 nào ở các bệnh nhân sử dụng chế phẩm chứa carbidopa/levodopa dạng tiêm. Điều này có thể do tần suất sử dụng dạng thuốc này thấp hơn, mới được cấp phép lưu hành và/hoặc sự khác biệt về liều dùng và đường dùng. Tuy nhiên, dựa trên cơ chế bệnh sinh, nguy cơ tương tự vẫn có thể xảy ra ở tất cả các thuốc chứa carbidopa/levodopa, do tình trạng thiếu vitamin B6 đã được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng trong quá trình nghiên cứu của cácchế phẩm carbidopa/levodopa dạng tiêm. Dựa trên các dữ liệu hiện có, FDA kết luận có bằng chứng hợp lý về mối quan hệ nhân quả giữa việc sử dụng các thuốc chứa carbidopa/levodopa và nguycơ co giật liên quan đến tình trạng thiếu vitamin B6.Theo đó, FDA đã thông báo đến các cơ sở đăng ký các thuốc chứa carbidopa/levodopa về bổ sung cảnh báo nguy cơ gây thiếu hụt vitamin B6 và co giật do thiếu hụt vitamin B6 vào thông tin sản phẩm của tất cả các chế phẩm chứa carbidopa/levodopa đang lưu hành tại Hoa Kỳ

Khuyến cáo dành cho nhân viên y tế

Nhân viên y tế cần đánh giá nồng độ vitamin B6 của bệnh nhân trước khi bắt đầu điều trị bằng các thuốc chứa carbidopa/levodopa, theo dõi định kỳ trong suốt quá trình điều trị và đánh giá lại khi xuất hiện các dấu hiệu hoặc triệu chứng nghi ngờ thiếu hụt vitamin B6. Việc bổ sung vitamin B6 cần được cân nhắc khi cần thiết.  Cần lưu ý rằng liều carbidopa/levodopa càng cao có thể làm tăng nguy cơ thiếu hụt vitamin B6.

Nhân viên y tế cũng cần lưu ý rằng các cơn co giật liên quan đến việc sử dụng thuốc chứa carbidopa và levodopa thường không đáp ứng với các thuốc chống động kinh thông thường, nhưng có thể thuyên giảm sau khi bổ sung vitamin B6. Ngoài ra, một số thuốc chống động kinh có thể làm tình trạng thiếu vitamin B6 trở nên trầm trọng hơn. Vì vậy, cần tư vấn cho bệnh nhân và người chăm sóc về những nguy cơ này cũng như tầm quan trọng của việc theo dõi và bổ sung vitamin B6 khi cần thiết.

Khuyến cáo dành cho bệnh nhân và người chăm sóc

Bệnh nhân và người chăm sóc cần lưu ý rằng việc sử dụng các thuốc chứa carbidopa/levodopa có thể dẫn đến thiếu hụt vitamin B6, từ đó làm tăng nguy cơ xuất hiện các cơn co giật. Các biểu hiệncủa thiếu hụt vitamin B6 bao gồm co giật, trầm cảm, lú lẫn, viêm môi, viêm lưỡi, viêm da và tổn thương thần kinh ngoại biên với các triệu chứng như tê bì, cảm giác châm chích, đau nhói hoặc yếu cơ. Bệnh nhân chỉ nên bổ sung vitamin B6 theo khuyến cáo của nhân viên y tế.

Nguồn: https://www.fda.gov/drugs/drug-safety-communications/fda-requiring-warning-about-vitamin-b6-deficiency-and-associated-seizures-drug-products-containing.

 

ĐIỂM TIN: LƯỢNG VITAMIN B6 KHUYẾN CÁO CHO CƠ THỂ

Vitamin B6 (pyridoxine) rất quan trọng cho sự phát triển bình thường của não, cũng như hệ thần kinh và hệ miễn dịch. Nguồn thực phẩm giàu vitamin B6 bao gồm thịt gia cầm, cá, khoai tây, đậu xanh và chuối. Vitamin B6 cũng có thể được dùng dưới dạng thực phẩm bổ sung, thường là viên nang, viên nén hoặc chất lỏng uống.

Mỗi ngày cần bao nhiêu vitamin B6?

Theo các khuyến nghị về dinh dưỡng, hàm lượng vitamin B6 cần thiết trong mỗi ngày cho nam giới từ 14 đến 50 tuổi là 1,3 mg; từ 51 tuổi trở lên là 1,7 mg; cho phụ nữ từ 14 đến 18 tuổi là 1,2 mg; từ 19 đến 50 tuổi là 1,3 mg và từ 51 tuổi trở lên là 1,5 mg. Đối với thời kỳ mang thai và cho con bú, lượng vitamin B6 cần tăng lên 1,9 mg và 2,0 mg theo thứ tự tương ứng.

Bên cạnh đó, mức tiêu thụ hàm lượng vitamin B6 có thể dung nạp được hay là liều tối đa hàng ngày mà không có khả năng gây ra tác dụng phụ bất lợi cho dân số nói chung ở một giá trị khá lớn. Cụ thể là hàm lượng vitamin B6 cho người lớn từ 19 tuổi trở lên có thể được chấp nhận tối đa là ở mức 100 mg mỗi ngày và với lượng ít hơn một chút ở trẻ em và thanh thiếu niên. Thật sự, hàm lượng vitamin B6 cao này chỉ có thể đạt được bằng cách uống bổ sung thông qua việc sử dụng các loại thực phẩm chức năng. Các chất bổ sung vitamin B6 thậm chí với mức liều cao hơn đôi khi được kê đơn vì lý do y tế. Tuy nhiên, người bệnh cần có sự giám sát của bác sĩ vì thừa vitamin B6 có thể gây ngộ độc.

Vai trò của vitamin B6 và sức khỏe con người

Vitamin B6 đã được nghiên cứu rộng rãi về vai trò của nó trong việc ngăn ngừa bệnh tật. Vitamin tổng hợp ở dạng bổ sung qua các thực phẩm chức năng cho thấy nhiều hứa hẹn trong việc điều trị chứng buồn nôn vì ốm nghén do mang thai. Tuy nhiên, việc sử dụng như vậy cần có chỉ định của bác sĩ và nên thực hiện dưới sự giám sát định kỳ.

Các lợi ích của Vitamin B6 cho sức khỏe:

  • Bệnh tim mạch: Mức homocysteine ​​cao trong máu có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵvì có thể thúc đẩy sự hình thành các cục máu đông và các tế bào gốc tự do dư thừa cũng như có thể làm suy giảm chức năng bình thường của mạch máu. Thiếu vitamin B6, cùng với vitamin B12 và axit folic, có thể làm tăng mức homocysteine. Mặc dù các nghiên cứu dịch tễ học đã phát hiện ra rằng việc bổ sung vitamin B có thể làm giảm mức homocysteine, khả năng giảm đồng thời nguy cơ biến cố tim mạch khi dùng vitamin này vẫn cần thêm các bằng chứng củng cố.
  • Khả năng nhận thức: Vitamin B6 có thể gián tiếp giúp ích cho chức năng não bằng cách giảm mức homocysteine, vì nồng độ cao của loại protein này trong cơ thể có liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh mất trí nhớ, bệnh Alzheimervà suy giảm nhận thức cao hơn. Thật vậy, đã có một số thử nghiệm có đối chứng cho thấy việc bổ sung vitamin B6 có thể làm chậm quá trình suy giảm nhận thức.
  • Ung thư: Các nghiên cứu dịch tễ họccho thấy ăn nhiều thực phẩm có vitamin B6 và nồng độ B6 trong máu cao hơn có liên quan đáng kể đến việc giảm nguy cơ mắc tất cả các bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư đường tiêu hóa. Trong đó, vitamin B6 được cho là có vai trò góp phần đáng kể trong ung thư đại trực tràng nhờ hoạt động của enzym có thể làm giảm stress oxy hóa và sự lây lan của các tế bào khối u. Thiếu vitamin B6 có liên quan đến tình trạng viêm mãn tính, một yếu tố nguy cơ gây ung thư đại trực tràng.
  • Ốm nghén: Vitamin B6 từ lâu đã được ghi nhận là một phương thuốc giúp giảm buồn nôn liên quan đến thai nghén và dạng nghiêm trọng nhất của nó là chứng buồn nôn nôn nhiều, đôi khi phải nhập viện do mất nước nghiêm trọng.

Nguồn thực phẩm giàu Vitamin B6:

Vitamin B6 được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm động vật và thực vật, như:

  • Gan bò
  • Cá ngừ
  • Cá hồi
  • Ngũ cốc
  • Đậu xanh
  • Thịt gia cầm

Một số loại rau và trái cây, đặc biệt là rau lá xanh đậm, chuối, đu đủ, cam và dưa đỏ

Dấu hiệu của sự thiếu hụt và ngộ độc Vitamin B6

  • Thiếu hụt Vitamin B6

Thiếu hụt vitamin B6 thường xảy ra đồng thời khi các vitamin B khác trong cơ thể cũng ở hàm lượng thấp, đặc biệt là vitamin B12 và axit folic. Sự thiếu hụt nhẹ có thể không có triệu chứng, nhưng sự thiếu hụt nghiêm trọng hơn hoặc kéo dài có thể biểu hiện những điều sau:

  • Thiếu máu hồng cầu nhỏ
  • Bệnh ngoài da
  • Phiền muộn
  • Lú lẫn
  • Giảm khả năng miễn dịch

Một số tình trạng có thể làm tăng nguy cơ diễn tiến đến sự thiếu hụt vitamin B6 do cản trở quá trình hấp thụ:

  • Ngộ độc vitamin B6:

Rất khó để có thể đạt tới hàm lượng B6 gây ngộ độc chỉ từ các nguồn thực phẩm ăn vào. Vitamin B6 là một loại vitamin hòa tan trong nước, do đó lượng không sử dụng được sẽ thoát ra khỏi cơ thể qua nước tiểu. Tuy nhiên, mức độ độc hại cũng có khả năng xảy ra khi bổ sung vitamin B6 ở liều rất cao trong thời gian dài với hàm lượng trên 1.000 mg mỗi ngày.

Các triệu chứng được hướng tới ngộ độc vitamin B6 được liệt kê dưới đây và thường sẽ giảm dần sau khi ngừng dùng liều cao, bao gồm:

  • Bệnh thần kinh ở bàn chân và bàn tay
  • Mất điều hòa, kiểm soát các chuyển động của cơ thể
  • Buồn nôn

Tóm lại, một chế độ ăn uống lành mạnh và đa dạng là hoàn toàn có thể cung cấp đủ vitamin B6 với lượng cần thiết mọi người. Tuy nhiên, đối với những người bị bệnh thận, hội chứng kém hấp thu và một số tình trạng khác, việc bổ sung thêm vitamin B6 là cần thiết. Lúc này, hàm lượng vitamin b6 cần được chỉ định và theo dõi tùy vào từng trường hợp, tránh tự ý bổ sung đơn độc vitamin B6 mà không cân đối với các vitamin nhóm B khác vì dễ dẫn đến ngộ độc. Trong trường hợp muốn biết bản thân có bị thiếu vitamin B6 hay không thì mọi người có thể đến bệnh viện uy tín để tiến hành thăm khám sức khỏe định kỳ.

Nguồn tham khảo: hsph.harvard.edu

 

 

 

Tin tức liên quan